Nội dung chính

TÓM TẮT
Một tình trạng đau bệnh nhân ung thư đã được chẩn đoán và điều trị trong lần đầu tiên
đến gặp bác sĩ thường không quá khác biệt với đau của một căn bệnh lành tính thông
thường. Dựa trên loại đau, nơi bị đau, nguồn gốc của đau và nhờ khai thác tiền sử bệnh,
thăm khám lâm sàng, chẩn đoán phân biệt thì một liệu trình điều trị phù hợp còn phải
được dựa trên tổng trạng bệnh nhân và tiên lượng sống.
Cách thức giảm đau được lựa chọn dựa trên tình trạng chung của bệnh nhân, các thương
tổn liên quan, loại thuốc giảm đau và đối tượng bệnh nhân là nội trú hoặc ngoại trú.
GIỚI THIỆU CHUNG
30% bệnh nhân ung thư có đau tại thời điểm chẩn đoán, 65-85% bệnh nhân có đau ở
giai đoạn tiến triển. Đau do ung thư làm tăng thêm sự đau khổ về mặt tinh thần, thay đổi
các hoạt động sống, rối loạn giấc ngủ, giảm chất lượng cuộc sống.
Mức độ đau: không đau, đau nhẹ, đau vừa, đau trầm trọng tại vị trí nguyên phát ở các
bệnh nhân ung thư được chăm sóc giảm nhẹ tương ứng: 24%, 24%, 30%, 21%. Thêm
vào đó, mức độ đau vừa và đau trầm trọng có tần suất xảy ra cao nhất trong ung thư
phần phụ, ung thư vùng đầu mặt cổ. Đau trầm trọng thường xảy ra trong ung thư tiền liệt
tuyến.
Vị trí di căn thường gặp trong ưng thư nguyên phát là phổi, gan và xương. Tần suất di
căn xương (hiển thị bằng đau bản thể nếu có gãy xương xảy ra) thường xuất hiện nhiều
tương ứng với ung thư vú, tiền liệt tuyến, phổi, thận, tuyến giáp, dạ dày, gan, buồng
trứng.
Đau tạng thường xảy ra trên ung thư gan mật hoặc ung thư tụy. Sự hiện diện của đau
thần kinh do ung thư di căn hoặc do khối bướu nguyên phát gây tổn thương đám rối thắt
lưng cùng, chèn ép tủy sống và các nhánh của đám rối hoặc có tình trạng xâm lấn màng
não. Bệnh của đám rối thắt lưng cùng (hiển thị bằng đau thần kinh) rất thường gặp trong
ung thư đại trực tràng, phần phụ, tiết niệu. Chèn ép tủy hoặc màng cứng có thể gặp trong
ung thư đại trực tràng, phổi, vú, tiền liệt tuyến, đường tiết niệu, ung thư xương nguyên
phát hoặc thứ phát.
Di căn màng não thường gặp trong bệnh ung thư máu (ung thư hệ bạch huyết) và ung
thư vú.
Một dạng đau do ung thư nguyên phát tiến triển có thể dẫn đến đau phức hợp sau ung thư di căn:
a. Nếu một bệnh nhân ung thư dạ dày không được mổ, có đau mức độ trầm trọng
vùng bụng trên không đáp ứng với nhóm thuốc opioids dạng uống hoặc miếng dán
thì việc điều trị đau bằng hủy đám rối dương sau khi phong bế thần kinh để chẩn
đoán là cần thiết để kiểm soát đau tạng.
b. Nếu dịch báng bụng nhiều, một buồng tiêm ngoài màng cứng được cấy vào cơ thể
bệnh nhân có thể giảm sự xuất hiện đau mới: đau bản thể.
c. Theo sau một tổn thương đốt sống do hủy xương gây chèn ép, phẫu thuật tạo hình
đốt sống qua da là cần thiết để giảm nguy cơ xuất hiện một đau mới: đau bản thể.
d. Sau khi nhận biết được thủ thuật phong bế ngoài màng cứng qua lỗ liên hợp không
hiệu quả, cần tính đến thủ thuật nội soi xâm lấn khoang ngoài màng cứng gần vị
trí hạch rễ sau để lấy khối tắc mạch do bướu để giảm nguy cơ đau thần kinh kháng
trị.
Thang điều trị đau của tổ chức y tế thế giới năm 1996 trong điều trị
đau do ung thư trên người lớn
Nếu có đau, cần áp dụng việc dùng thuốc giảm đau theo đường uống dựa trên nguyên
tắc: (1) Nhóm không opioids (Aspirin, Paracetamol); (2) Dùng khi cần, nhóm opioids yếu
(Codein, Tramadol); (3) Nhóm opioids mạnh (Morphin), cho đến khi bệnh nhân không
đau. Để an thần, giúp bệnh nhân bớt lo âu, sợ hãi, cần thêm nhóm thuốc phối hợp cho
cả 3 bậc thang điều trị [5].
Nguyên tắc của dùng thuốc trong đau do ung thư [7]
a. Đường uống: các đường dùng thuốc khác có thể giúp ích với bệnh nhân nặng trong
tình trạng loạn cảm đau, nôn ói không kiểm soát hoặc tắc ruột.
b. Dùng thuốc theo giờ: bệnh nhân với đau liên tục nên được cho thuốc giảm đau với
khoảng cách cố định về thời gian. Chuẩn liều thuốc giảm đau để tìm liều giảm đau
phù hợp cho mỗi bệnh nhân. Một số bệnh nhân cần dùng liều thuốc cứu hộ để
cho cơn đau đột xuất hoặc đau tột đỉnh theo giờ. Để duy trì tình trạng không đau,
thuốc phải được cho theo giờ, có nghĩa là mỗi 3-6 giờ, việc này tốt hơn là cho
thuốc theo yêu cầu. Tiếp cận dùng thuốc theo 3 bước, đúng thuốc, đúng liều, đúng
thời gian sẽ tiết kiệm tiền và hiệu quả đến 80-90%. Can thiệp phẫu thuật tương ứng
với vị trí thần kinh tổn thương có thể giảm đau tốt hơn nếu thuốc uống không hiệu
quả nhiều.
c. Dùng thuốc theo bậc thang giảm đau: dùng cùng lúc chỉ một loại thuốc của mỗi
nhóm thuốc.
d. Dùng thuốc theo cá thể người bệnh: liều hiệu quả là liều giúp giảm đau cho bệnh
nhân với tác dụng phụ ít nhất.
e. Dùng thuốc với lưu ý chi tiết: lưu ý theo dõi chế độ thuốc giảm đau một cách cẩn
thận. Theo dõi thường xuyên sự dung nạp và hiệu quả của thuốc cũng như tác dụng
phụ. Dùng thuốc đối kháng tác dụng trong một số trường hợp, đôi khi cần điều trị
dự phòng tác dụng phụ.
Kiểm soát đau không can thiệp
Đây là chỉ định phù hợp cho kiểm soát đau không can thiệp cho những bệnh nhân đã
từng chịu đựng cơn đau ung thư khó kiểm soát. Người bác sĩ tuyến dưới có thể bắt đầu
với điều trị này. Dù sao, rất khó để có thể chắc chắn rằng mọi bác sĩ tuyến dưới có khả
năng chẩn đoán phân biệt các dạng khác nhau của đau do ung thư.
Điều trị bằng thuốc với kiểm soát đau không can thiệp nên bắt đầu với loại đau ung thư.
Theo thói quen, có một chút nghi ngờ rằng đau bản thể thụ thể có thể điều trị với sử
dụng thang điều trị đau năm 1996 cho bệnh nhân người lớn. Dù sao, một loại opioide yếu hoặc mạnh thì tốt hơn so với thuốc giảm đau không oipioid trong sự lựa chọn đầu
tiên cho loại đau tạng-thụ thể và cần bỏ qua bước 1.
Can thiệp kiểm soát đau
Tiên lượng sống, chất lượng cuộc sống và can thiệp giảm đau:
Kỹ thuật xâm lấn tối thiểu cho đau ung thư dai dẳng có thể mở rộng cho lĩnh vực
chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân yếu và được sử dụng như một lựa chọn phụ
trước khi tiến hành phẫu thuật. Thủ thuật này chỉ áp dụng cho bệnh nhân mà ước
lượng thời gian sống khoảng 3-6 tháng.
Can thiệp điều trị đau trong đau tạng:
Đau bụng có thể chia thành phức hợp đau tạng và đau bản thể, thường xảy ra độc lập
hoặc phối hợp xuyên suốt quá trình đau. Đau bản thể bắt nguồn từ một kích thích từ lá
thành phúc mạc và được định khu chính xác với vị trí đặc biệt trong ổ bụng, trong khi
đó đau tạng thường là cái đau tự nhiên, không rõ ràng và được mô tả như đau khắp ổ
bụng.
Chính vì thế, cắt hạch giao cảm bằng hóa chất chỉ sử dụng cho đau tạng, trong khi cấy
buồng tiêm ngoài màng cứng lại rất hữu ích cho bệnh nhân có báng bụng – nguyên nhân
gây đau bản thể trên nền đau tạng [19].
Can thiệp kiểm soát đau cho đau thần kinh:
Hầu hết bệnh cột sống do di căn đều bắt nguồn từ thân đốt sống, vùng một nửa sau thân
đốt sống hoặc vùng cạnh bên đốt sống là các vị trí thường gặp. Đường đi của dây thần
kinh tủy sống đi qua cột sống thông qua lỗ liên hợp. Cột sống ngực gặp nhiều nhất (70%),
cột sống thắt lưng (20%) và xương cùng (10%) [23].
Lựa chọn điều trị sẵn có cho u di căn cột sống bao gồm: xạ trị, phẫu thuật, hóa trị. Xạ trị
là lựa chọn đầu tiên cho mọi loại ung thư di căn tủy sống.
Can thiệp đau trong đau toàn thể:
Cấy buồng tĩnh mạch có thể giúp cho bệnh nhân đau toàn thân với nguyên nhân di căn
toàn bộ cơ thể. Vị trí tĩnh mạch dưới đòn là lựa chon tốt hơn tĩnh mạch cảnh trong, bệnh
nhân sẽ dễ chịu hơn. Trong đau phức hợp, thuốc giảm đau opioid, giảm viêm không
steroid (NSAID), ketamine, nefopam và/hoặc midazolam có thể dùng đường tĩnh mạch.
CHĂM SÓC GIẢM NHẸ (PALLIATIVE CARE)
Định nghĩa về chăm sóc giảm nhẹ
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa chăm sóc giảm nhẹ là một tiếp cận nhằm cải thiện chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình họ, giúp họ đối mặt với các vấn đề liên quan
với bệnh tật đe dọa tính mạng thông qua việc phòng ngừa, giảm bớt sự đau khổ bằng
cách xác định sớm, đánh giá toàn diện và điều trị đau và các vấn đề khác về mặt thể
chất, tâm lý và tâm linh.
Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ
Giảm đau, giảm sự chịu đựng.
Khẳng định được ý nghĩa của cuộc sống và xem như cái chết là một diễn tiến tự
nhiên.
Có vai trò không làm nhanh mà cũng không làm chậm cái chết.
Có sự tương tác về khía cạnh tâm lý, tâm linh trong chăm sóc.
Đưa ra được sự hỗ trợ có thể giúp bệnh nhân sống cho đến lúc chết.
Có sự hỗ trợ giúp gia đình đối mặt trong suốt quá trình bệnh tật của bệnh nhân và
sự thương tiếc của họ đối với người thân.
Làm việc theo nhóm quan tâm đến nhu cầu của bệnh nhân và gia đình của họ, bao
gồm cả sự tư vấn về tang gia, nếu như có chỉ định.
Nâng cao chất lượng cuộc sống, có ảnh hưởng tốt tới quá trình bệnh.
Có thể áp dụng sớm ngay từ giai đoạn sớm của bệnh, trong sự kết nối với các liệu
pháp khác với mục tiêu kéo dài cuộc sống, ví dụ như hóa trị, xạ trị, bao gồm cả
các xét nghiệm chuyên sâu để có được hiểu biết tốt hơn về bệnh và giảm bớt stress
và biễn chứng của liệu trình điều trị.
KẾT LUẬN
Kiểm soát đau trong ung thư là lựa chọn cuối cùng trong điều trị đau. Đau do ung thư
bao gồm nhiều loại: đau thụ thể, đau thần kinh. Kiểm soát đau ung thư gồm không can
thiệp và can thiệp. Kiểm soát đau do ung thư mới được phân độ bao gồm vai trò quan
trọng của thủ thuật can thiệp giảm đau. Chăm sóc giảm nhẹ là một hướng tiếp cận nhằm
cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh và gia đình, giúp họ đối mặt với vấn đề liên
quan như bệnh có đe dọa đến tính mạng thông qua việc phòng ngừa và giảm bớt sự đau
khổ bằng cách đánh giá đúng, điều trị đau và các vần đề liên quan đến các yếu tố cơ
thể bệnh, tâm lý và tâm linh.
Kyung – Hoon Kim M.D., Ph.D
Department of Anesthesia and Pain Medicine, School of Medicine,
Pusan National University, Pusan, Korea
BT