Messenger
Zalo Tan Binh
Zalo Phu Nhuan

IMG_5649

TÓM TẮT
Một tình trạng đau bệnh nhân ung thư đã được chẩn đoán và điều trị trong lần đầu tiên 
đến gặp bác sĩ thường không quá khác biệt với đau của một căn bệnh lành tính thông 
thường. Dựa trên loại đau, nơi bị đau, nguồn gốc của đau và nhờ khai thác tiền sử bệnh,
thăm khám lâm sàng, chẩn đoán phân biệt thì một liệu trình điều trị  phù hợp còn phải 
được dựa trên tổng trạng bệnh nhân và tiên lượng sống.
Cách thức giảm đau được lựa chọn dựa trên tình trạng chung của bệnh nhân, các thương 
tổn liên quan, loại thuốc giảm đau và đối tượng bệnh nhân là nội trú hoặc ngoại trú.

GIỚI THIỆU CHUNG
30% bệnh nhân ung thư có đau tại thời điểm chẩn đoán, 65-85% bệnh nhân có đau ở
giai đoạn tiến triển. Đau do ung thư làm tăng thêm sự đau khổ về mặt tinh thần, thay đổi 
các hoạt động sống, rối loạn giấc ngủ, giảm chất lượng cuộc sống.
Mức độ  đau: không đau, đau nhẹ, đau vừa, đau trầm trọng tại vị  trí nguyên phát  ở  các 
bệnh nhân ung thư được chăm sóc giảm nhẹ  tương  ứng: 24%, 24%, 30%, 21%. Thêm
vào đó, mức độ  đau vừa và đau trầm trọng  có tần suất xảy ra cao nhất trong ung thư 
phần phụ, ung thư vùng đầu mặt cổ. Đau trầm trọng thường xảy ra trong ung thư tiền liệt 
tuyến.
Vị  trí di căn thường gặp trong ưng thư nguyên phát là phổi, gan và xương. Tần  suất di 
căn xương (hiển thị bằng đau bản thể nếu có gãy xương xảy ra) thường xuất hiện nhiều 
tương  ứng với ung thư vú, tiền liệt tuyến, phổi, thận, tuyến giáp, dạ  dày, gan, buồng 
trứng.
Đau tạng thường xảy ra trên ung thư gan mật hoặc ung thư tụy. Sự  hiện  diện của đau 
thần kinh do ung thư di căn hoặc do khối bướu nguyên phát gây tổn thương đám rối thắt 
lưng cùng, chèn ép tủy sống và các nhánh của đám rối hoặc có tình trạng xâm lấn màng 
não. Bệnh của đám rối thắt lưng cùng (hiển thị bằng đau thần kinh) rất thường gặp trong 
ung thư đại trực tràng, phần phụ, tiết niệu. Chèn ép tủy hoặc màng cứng có thể  gặp trong 
ung thư đại trực tràng, phổi, vú, tiền liệt tuyến, đường tiết niệu, ung thư xương nguyên 
phát hoặc thứ phát.
Di căn màng não thường gặp trong bệnh ung  thư máu (ung thư hệ  bạch huyết) và ung 
thư vú.

Một dạng đau do ung thư nguyên phát tiến triển có thể dẫn đến đau phức hợp sau ung thư di căn:
a.  Nếu một bệnh nhân ung thư dạ  dày không được mổ, có đau mức độ  trầm trọng 
vùng bụng trên không đáp ứng với nhóm thuốc opioids dạng uống hoặc miếng dán 
thì việc điều trị đau bằng hủy đám rối dương sau khi phong bế thần kinh để chẩn 
đoán là cần thiết để kiểm soát đau tạng. 
b.  Nếu dịch báng bụng nhiều, một buồng tiêm ngoài màng cứng được cấy vào cơ thể
bệnh nhân có thể giảm sự xuất hiện đau mới: đau bản thể.
c.  Theo sau một tổn thương đốt sống do hủy xương gây chèn ép, phẫu thuật tạo hình 
đốt sống qua da là cần thiết để giảm nguy cơ xuất hiện một đau mới: đau bản thể.
d.  Sau khi nhận biết được thủ  thuật phong bế ngoài màng cứng qua lỗ liên hợp không 
hiệu quả, cần tính đến thủ  thuật nội soi xâm lấn khoang ngoài màng cứng gần vị
trí hạch rễ sau để lấy khối tắc mạch do bướu để giảm nguy cơ đau thần kinh kháng 
trị. 
Thang điều trị đau của tổ chức y tế thế giới năm 1996 trong điều trị
đau do ung thư trên người lớn

Nếu có đau, cần áp dụng việc dùng thuốc giảm đau theo đường uống dựa trên nguyên 
tắc: (1) Nhóm không opioids (Aspirin, Paracetamol); (2) Dùng khi cần, nhóm opioids yếu 
(Codein, Tramadol); (3)  Nhóm opioids mạnh (Morphin), cho đến khi bệnh nhân không 
đau. Để an thần, giúp bệnh nhân bớt lo âu, sợ hãi, cần thêm nhóm thuốc phối hợp cho 
cả 3 bậc thang điều trị [5].

Nguyên tắc của dùng thuốc trong đau do ung thư [7] 

a.  Đường uống: các đường dùng thuốc khác có thể  giúp ích với bệnh nhân nặng trong 
tình trạng loạn cảm đau, nôn ói không kiểm soát hoặc tắc ruột.
b.  Dùng thuốc theo giờ: bệnh nhân với đau liên tục nên được cho thuốc giảm đau với 
khoảng cách cố định về thời gian. Chuẩn liều thuốc giảm đau để  tìm liều giảm đau 
phù hợp cho mỗi bệnh nhân. Một số  bệnh nhân cần dùng liều thuốc cứu hộ  để
cho cơn đau đột xuất hoặc đau tột đỉnh theo giờ. Để duy trì tình trạng không đau, 
thuốc phải được cho theo giờ, có nghĩa là mỗi 3-6  giờ, việc này tốt hơn là cho 
thuốc theo yêu cầu. Tiếp cận dùng thuốc theo 3 bước, đúng thuốc, đúng liều, đúng 
thời gian sẽ  tiết kiệm tiền và hiệu quả  đến 80-90%. Can thiệp phẫu thuật tương  ứng 
với vị trí thần kinh tổn thương có thể giảm đau tốt hơn nếu thuốc uống không hiệu 
quả nhiều.
c.  Dùng thuốc theo bậc thang giảm đau: dùng cùng lúc chỉ  một loại thuốc của mỗi 
nhóm thuốc. 
d.  Dùng thuốc theo cá thể người bệnh: liều hiệu quả là liều giúp giảm đau cho bệnh 
nhân với tác dụng phụ ít nhất.
e.  Dùng thuốc với lưu ý chi tiết: lưu ý theo dõi chế độ thuốc giảm đau một cách cẩn 
thận. Theo dõi thường xuyên sự  dung nạp và hiệu quả  của thuốc cũng như tác dụng 
phụ. Dùng thuốc đối kháng tác dụng trong một số trường hợp, đôi khi cần điều trị
dự phòng tác dụng phụ.

Kiểm soát đau không can thiệp
Đây là chỉ  định phù hợp cho kiểm soát đau không can thiệp cho những bệnh nhân đã 
từng chịu đựng cơn đau ung thư khó kiểm soát. Người bác sĩ tuyến dưới có thể bắt đầu 
với điều trị này. Dù sao, rất khó để có thể chắc chắn rằng mọi bác sĩ tuyến dưới có khả
năng chẩn đoán phân biệt các dạng khác nhau của đau do ung thư.
Điều trị bằng thuốc với kiểm soát đau không can thiệp nên bắt đầu với loại đau ung thư. 
Theo thói quen, có một chút nghi ngờ  rằng đau bản thể  thụ  thể  có thể  điều trị  với sử
dụng thang điều trị  đau năm 1996 cho bệnh nhân người lớn. Dù sao, một loại opioide yếu hoặc mạnh thì tốt hơn so với thuốc giảm đau không oipioid trong sự lựa chọn đầu 
tiên cho loại đau tạng-thụ thể và cần bỏ qua bước 1.
 

Can thiệp kiểm soát đau 

Tiên lượng sống, chất lượng cuộc sống và can thiệp giảm đau:
Kỹ  thuật xâm lấn tối thiểu cho đau ung thư dai dẳng có thể mở  rộng cho lĩnh vực 
chăm sóc giảm nhẹ  trên bệnh nhân yếu và được sử  dụng như một lựa chọn phụ
trước khi tiến hành phẫu thuật. Thủ thuật này chỉ áp dụng cho bệnh nhân mà ước 
lượng thời gian sống khoảng 3-6 tháng.
 

Can thiệp điều trị đau trong đau tạng:

Đau bụng có thể  chia thành phức hợp đau tạng và đau bản thể, thường xảy ra độc lập 
hoặc phối hợp xuyên suốt quá trình đau. Đau bản thể bắt nguồn từ một kích thích từ lá 
thành phúc mạc và được định khu chính xác với vị  trí đặc biệt trong  ổ  bụng, trong khi 
đó đau tạng thường là cái đau tự  nhiên, không rõ ràng và được mô tả  như đau khắp ổ
bụng. 

Chính vì thế, cắt hạch giao cảm bằng hóa chất chỉ sử dụng cho đau tạng, trong khi cấy 
buồng tiêm ngoài màng cứng lại rất hữu ích cho bệnh nhân có báng bụng  –  nguyên nhân 
gây đau bản thể trên nền đau tạng [19].
 

Can thiệp kiểm soát đau cho đau thần kinh:
Hầu hết bệnh cột sống do di căn đều bắt nguồn từ thân đốt sống, vùng một nửa sau thân 
đốt sống hoặc vùng cạnh bên đốt sống là các vị  trí thường gặp. Đường đi của dây thần 
kinh tủy sống đi qua cột sống thông qua lỗ  liên hợp. Cột sống ngực gặp nhiều nhất (70%), 
cột sống thắt lưng (20%) và xương cùng (10%) [23].
Lựa chọn điều trị sẵn có cho u di căn cột sống bao gồm: xạ trị, phẫu thuật, hóa trị. Xạ trị
là lựa chọn đầu tiên cho mọi loại ung thư di căn tủy sống.

Can thiệp đau trong đau toàn thể:
Cấy buồng tĩnh mạch có thể giúp cho bệnh nhân đau toàn thân với nguyên nhân di căn 
toàn  bộ cơ thể. Vị trí tĩnh mạch dưới đòn là lựa chon tốt hơn tĩnh mạch cảnh trong, bệnh 
nhân sẽ  dễ  chịu hơn. Trong đau phức hợp, thuốc giảm đau opioid, giảm viêm không 
steroid (NSAID), ketamine, nefopam và/hoặc midazolam có thể dùng đường tĩnh mạch.

CHĂM SÓC GIẢM NHẸ (PALLIATIVE CARE)
Định nghĩa về chăm sóc giảm nhẹ
Tổ chức Y tế  Thế  giới định nghĩa chăm sóc giảm nhẹ là một tiếp cận nhằm cải thiện chất 
lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình họ, giúp họ  đối mặt với các vấn đề  liên quan 
với bệnh tật đe dọa tính mạng thông qua việc phòng ngừa, giảm bớt sự  đau khổ  bằng 
cách xác định sớm, đánh giá toàn diện và điều trị  đau và các vấn đề  khác về  mặt thể
chất, tâm lý và tâm linh.
Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ
  Giảm đau, giảm sự chịu đựng.
  Khẳng định  được ý nghĩa của cuộc sống và xem như cái chết là một diễn tiến tự
nhiên.
  Có vai trò không làm nhanh mà cũng không làm chậm cái chết.
  Có sự tương tác về khía cạnh tâm lý, tâm linh trong chăm sóc.
  Đưa ra được sự hỗ trợ có thể giúp bệnh nhân sống cho đến lúc chết.
  Có sự hỗ trợ giúp gia đình đối mặt trong suốt quá trình bệnh tật của bệnh nhân và 
sự thương tiếc của họ đối với người thân.
  Làm việc theo nhóm quan tâm đến nhu cầu của bệnh nhân và gia đình của họ, bao 
gồm cả sự tư vấn về tang gia, nếu như có chỉ định.
  Nâng cao chất lượng cuộc sống, có ảnh hưởng tốt tới quá trình bệnh.
  Có thể áp dụng sớm ngay từ giai đoạn sớm của bệnh, trong sự kết nối với các liệu 
pháp khác với mục tiêu kéo dài cuộc sống, ví dụ  như hóa trị, xạ  trị, bao gồm cả 

các xét nghiệm chuyên sâu để có được hiểu biết tốt hơn về bệnh và giảm bớt stress 
và biễn chứng của liệu trình điều trị.

KẾT LUẬN
Kiểm soát đau trong ung thư là lựa chọn cuối cùng trong điều trị  đau.  Đau do ung thư 
bao gồm nhiều loại: đau thụ thể, đau thần kinh. Kiểm soát đau ung thư gồm không can 
thiệp và can thiệp.  Kiểm soát đau do ung thư mới được phân độ  bao gồm vai trò quan 
trọng của thủ thuật can thiệp giảm đau.  Chăm sóc giảm nhẹ là một hướng tiếp cận nhằm 
cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh và gia đình, giúp họ đối mặt với vấn đề liên 
quan như bệnh có đe dọa đến tính mạng thông qua việc phòng ngừa và giảm bớt sự đau 
khổ  bằng cách đánh giá đúng, điều trị  đau và các vần đề  liên quan đến các yếu tố  cơ 
thể bệnh, tâm lý và tâm linh.

Kyung – Hoon Kim M.D., Ph.D
Department of Anesthesia and Pain Medicine, School of Medicine, 
Pusan National University, Pusan, Korea

BT

Nguyen Tran

Đăng tải May 30, 2015
author